Từ ngày thành lập, Saplastic với phương châm Chất lượng sản phẩm sự trân trọng của một doanh nghiệp đã thể hiện đúng cho quá trình sản xuất kinh doanh. Để đạt được mục tiêu ấy, cùng với việc xây dựng và áp dụng đồng bộ hai hệ thống ISO, bốn chương trình công nghệ đã được hoạch định và thực hiện xuyên suốt, từng bước điều chỉnh, cải tiến, thường xuyên nâng cao tính hiệu quả của mọi hoạt động:
1. Công nghệ toàn diện
Nỗ lực đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng về kỹ thuật, bảo quản vệ sinh an toàn thực phẩm, tính chất cơ lý, độ cản khí và hơi nước của bao bì, chuẩn mực ổn định về chất lượng.
Đối với nhu cầu thị trường bao gói thực phẩm, Saplastic thỏa mãn yêu cầu hợp lý về độ cản khí, cản hơi nước, các chỉ số độ bền mối nối, lực tách lớp và self-life đạt tiêu chuẩn yêu cầu khách hàng.
2. Công nghệ cạnh tranh
Do kinh nghiệm về tính năng từ máy Shin Han SH-1300 và ít nhất là qua nghiên cứu công nghệ vật liệu, hiện nay Công ty đã sản xuất các loại màng nhôm phức hợp (4 lớp), màng PET/LLDPE (3 lớp) với chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh từ 400 - 500VNĐ/m2, tạo ra sự khác biệt về chất lượng và thế mạnh cạnh tranh trên phân khúc thị trường này.
Tuy nhiên, do giới hạn về việc mở rộng quy mô sản xuất, Công ty phải chọn lọc khách hàng chưa thể mở rộng để đáp ứng yêu cầu của Lãnh đạo và toàn thể CB – CNV.
3. Công nghệ sạch
Với quan điểm “bảo vệ trái đất là bảo vệ ngôi nhà chung của nhân loại”, Công ty đã thực hiện sản xuất một cách nhất quán theo các chính sách :
a) Tuân thủ pháp luật và các yêu cầu khác liên quan đến môi trường.
b) Xác định các khía cạnh tác động đến môi trường trong quá trình sản xuất để kiểm soát chặt chẽ lượng rác thải, xây dựng lộ trình thay thế dần các hóa chất có chỉ số tác động môi trường cao bằng loại ít tác động hơn (ví dụ thay methanol-nhập khẩu bằng etanol-sản xuất từ cồn thực phẩm nhằm giảm thiểu sự cạn kiệt nguồn tài nguyên).
c) Tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhằm mục đích:
Tiết kiệm năng lượng.
Giảm thiểu hóa chất thải.
Thực hiện quản lý hóa chất thải gây ảnh hưởng môi trường.
d) Thực hiện quản trị môi trường sản xuất theo tiêu chuẩn ISO 14001 : 2004
4. Tối ưu hóa đầu vào
a) 68% nguyên vật liệu nhập từ các nhà cung cấp tầm cỡ trên thế giới như : DUPON, Exxon Mobil, Dow Chemical và tầm châu lục địa như Sakata Inx, TPC, Siam Cement Group, Polyplex, P&P… được Saplastic lựa chọn với chỉ số ổn định lâu dài về chất lượng nguyên vật liệu, khả năng cung ứng tuyệt đối, hệ số rủi ro thấp và đặc biệt là sự tuân thủ tiêu chuẩn an toàn thực phẩm theo quy định của EC.
b) 12% nguyên vật liệu còn lại đáp ứng từ những nhà sản xuất trong nước đã qua hệ thống chọn lọc và đánh giá đúng quy trình của ISO 9001 : 2000.
Công nghệ sản xuất hoàn hảo, đã được kiểm tra thử nghiệm và đáp ứng 100% yêu cầu khách hàng khi thiết kế sản phẩm mới;
:
Đã thực hiện và đối chiếu, kiểm chứng kết quả đóng gói, sử dụng, tuy nhiên chưa triển khai sâu rộng do giới hạn về quy mô sản xuất;
:
Công nghệ cao trong ngành bao bì nhưa, hiện chỉ có 2 công ty đang sản xuất (1% tổng số công ty bao bì nhựa), 1 doanh nghiệp đang nghiên cứu, do hạn chế về đầu vào (nguyên liệu CPP retort) và chi phí.
Kết quả sau cùng của việc kết hợp chặt chẽ các quy trình công nghệ được đánh giá bằng thực chứng như sau :
Các số liệu sản xuất từ tháng 01.2007 đến tháng 05.2007 cho thấy kết quả qua trình triển khai công nghệ - sản xuất đang có xu thế biến thiên đúng với các chỉ tiêu đã hoạch định :
A. Đối phó rủi ro :
1. Do biến đổi môi trường :
Xu hướng suy giảm dần công suất máy móc - thiết bị do ảnh hưởng tuổi thọ.
Sự giới hạn về mở rộng quy mô sản xuất.
Áp lực tài chính do vay, thế chấp bởi lượng hàng hóa sản phẩm phải giải quyết vốn lưu động.
2. Do thay đổi môi trường bên ngoài :
Xuất hiện đối thủ cạnh tranh mới.
Sự chuyển điổ sách lược của đối thủ cạnh tranh nhằm hướng vào những hàng hóa có tỷ suất lợi nhuận cao (túi nhôm và mạ nhôm, túi dầu sa tế).
Khách hàng mặc cả về giá và hạn mức tín dụng (mua chịu) khi xuất hiện nhiều doanh nghiệp chào hàng cho cùng một loại sản phẩm.
Uy tín thương hiệu tăng cao, một số khách hàng mong muốn gia tăng số lượng, chủng loại nhưng Công ty chưa thể đáp ứng được.
Giá nguyên vật liệu nhựa tăng nhiều lần do biến động của giá dầu thế giới, làm cho lợi nhuận có xu hướng giảm
B. Tận dụng các cơ hội :
Trong bối cảnh toàn cầu hóa phạm vi quốc gia, hoạch định và thực hiện lộ trình chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Saplastic, nhằm tăng cường năng lực về vốn, đầu tư, tài trợ, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tận dụng lợi thế thương hiệu do Certificate (năm 2006) của ISO 9001 : 2000 và ISO 14001 : 2004 trong quá trình tiếp thị bán hàng.
Công ty chọn lựa sản xuất các loại hàng hóa thế mạnh của mình trên cơ sở sự gia tăng sản lượng của khách hàng do bắt đầu lộ trình hội nhập WTO.
Do kinh nghiệm sáng giá của những năm sản xuất, kinh doanh hàng chất lượng cao, thực hiện củng cố tổ chức, sắp xếp lực lượng nhân sự, đặc biệt quan tâm đến công nhân có tay nghề cao, đào tạo tìm chọn phát huy khả năng nhân sự.
Tích cực chuyển đổi chính sách bán hàng, củng cố đội ngũ marketing, kịp thời hoạch định việc chuyển đổi chính sách về giá, dịch vụ (hậu mãi) để phù hợp tình hình cạnh tranh mới.
Kịp thời nắm bắt và ứng dụng thành tựu công nghệ mới trong ngành nhựa năm 2004-2005, qua đó đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực.
Đẩy mạnh công tác bảo trì, cải tiến máy móc, thiết bị, thực hiện tăng năng suất hợp lý trong công nghệ.
Khai thác lợi thế về các quan hệ thương mại truyền thống với các nhà cung ứng vật liệu plastic tầm cỡ (Dupon, Dow Chemical, Exxon Mobil,... ) để tìm kiếm, thí nghiệm vật liệu mới nhằm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.